Articles worth reading

1️⃣2️⃣:2️⃣0️⃣

access_time 12 months ago

1️⃣2️⃣:2️⃣0️⃣ BỘT NGHỆ GIẢI RƯỢU Ukon Orihiro Nhật Bản tác dụng giải rượu, giải độc & bảo vệ gan trước

[GIẢI CÁNH DIỀU 2017]

access_time 1 year ago

[GIẢI CÁNH DIỀU 2017] Tròn một năm ngày bấm máy thì nhận được tin phim “Áo Đồng Phục” được nhận

Nhà em lại về thêm bạn này nhéeee

access_time 2 months ago

Nhà em lại về thêm bạn này nhéeee Bác em bị mờ giác mạc, bác sĩ yêu cầu phẫu thuật

Vụ tăng thuế xăng dầu mới đây nhất là một minh chứng nữa cho thấy Nhà nước hình như đang chủ trương tận thu mọi nguồn lực trong xã hội

Vụ tăng thuế xăng dầu mới đây nhất là một minh chứng nữa cho thấy Nhà nước hình như đang chủ trương tận thu mọi nguồn lực trong xã hội

access_time 1 year ago chat_bubble_outline 0 comments
shareShare this post

Vụ tăng thuế xăng dầu mới đây nhất là một minh chứng nữa cho thấy Nhà nước hình như đang chủ trương tận thu mọi nguồn lực trong xã hội, bất chấp sức dân và thực tế ạch đụi hiện nay của kinh tế trong nước!
Điều khôi hài là đầu tiên, việc tăng thuế xăng dầu được giải thích dưới lý do “để tăng nguồn thu cho bảo vệ môi trường”. Nhưng trong các phát biểu sau đó trên báo chí, các quan chức lại “giấu đầu hở đuôi”, buột miệng để lộ ý đồ “nhằm đảm bảo cho ngân sách Nhà nước” (!).
Không biết khi đưa ra đề nghị tăng thuế này, đã có viên chức nào trong Bộ Tài chính của chúng ta chịu ngồi tính thử xem hiện nay mỗi người dân đang cõng trên lưng bao nhiêu loại thuế, phí? Và bao nhiêu trong số đó là chồng chéo, trùng lắp? Chỉ nói riêng trong lĩnh vực môi trường, hiện nay đã có ba loại đang áp dụng: Thuế bảo vệ môi trường, phí bảo vệ môi trường và lệ phí môi trường. Thế nên khó có thể biện minh rằng cần tăng thuế xăng dầu là để tăng thêm nguồn thu cho công tác bảo vệ môi trường. Còn nếu nói tăng để đảm bảo nguồn thu cho ngân sách Nhà nước thì lại càng vô lý vì nếu chiếu theo quan điểm này, chẳng lẽ cứ khi nào ngân sách Nhà nước thiếu hụt thì Chính phủ lại phải tìm cách tăng thuế để bù đắp?
Nhân chuyện này, lại nhớ đến một vài điều bất cập trong Luật Bảo hiểm Xã hội (BHXH) mới đã được áp dụng từ năm 2016. Sắp tới đây, kể từ năm 2018, người lao động sẽ phải đóng BHXH thêm 5 năm nữa (nam đóng đủ 35 năm, nữ đóng đủ 30 năm, thay vì 30 và 25 năm như trước đây) thì mới đủ điều kiện được hưởng lương hưu tối đa là 75% mức bình quân hàng tháng đóng BHXH. Mặt khác, mức lương bình quân của người lao động để làm cơ sở tính lương hưu sẽ được tính trên 15 năm, thay vì 5 năm gần nhất như trước đây. Những thay đổi này không hề mang lại giá trị tích cực nào mà chỉ gây thiệt hại cho người lao động và làm lợi cho Quỹ BHXH (nhưng không phải để cho đối tượng lãnh lương hưu được hưởng thêm). Bất cứ ai là một người bình thường cũng có thể thấy được điều này! Chưa kể, cũng từ năm 2018, mức lương làm căn cứ đóng BHXH sẽ không phải chỉ tính trên lương cơ bản mà bao gồm toàn bộ thu nhập thực tế của người lao động, tức lương và cả phụ cấp cùng các khoản thu nhập bổ sung ghi trên hợp đồng. Mức thu tăng cao, nhưng quyền lợi của người tham gia bảo hiểm thì hầu như không có thay đổi gì đáng kể so với trước đây, nếu không muốn nói là còn thiệt thòi hơn.
Vô lý nữa, luật mới còn quy định kể từ 2018, lao động người nước ngoài được cấp phép làm việc tại VN cũng phải tham gia BHXH. Các doanh nghiệp có thuê lao động người nước ngoài hiện như ngồi trên đống lửa khi thời điểm 2018 đang tới gần… Đa phần các đối tượng lao động đến từ nước ngoài (thường gọi là experts) chỉ ký hợp đồng lao động có thời hạn ngắn, từ vài tháng cho đến 1-2 năm. Hoặc cao lắm theo chế độ luân chuyển chuyên gia cao cấp như của các tập đoàn đa quốc gia hay các tổ chức quốc tế thì cũng chỉ kéo dài từ 3 đến 5 năm là tối đa. Câu hỏi đặt ra là các đối tượng này đã tham gia chế độ bảo hiểm tại quê nhà của họ nên không có nhu cầu phải tham gia BHXH tại VN, vậy tại sao lại phải chăm lo bảo vệ cái quyền lợi mà họ không hề màng tới? Ngoài ra, cũng không hiểu với thời hạn làm việc ngắn từ vài tháng tới vài năm, khi người lao động nước ngoài hết hợp đồng về nước thì khi đó ai sẽ được thụ hưởng các quyền lợi bảo hiểm và hưởng như thế nào?
Tương tự, kể từ năm 2016, lao động người nước ngoài cũng đã phải tham gia bảo hiểm y tế bắt buộc. Trên thực tế, để thu hút đối tượng expert, các doanh nghiệp thường vẫn phải mua gói bảo hiểm sức khoẻ cao cấp theo tiêu chuẩn quốc tế cho họ, bởi với mức chi trả tối đa cho một lần sử dụng dịch vụ cao của BHYT hiện nay chỉ cho phép bằng 40 lần mức lương cơ sở (mức lương cơ sở hiện nay là 1.210.000 đồng, quy ra tức khoảng 48.400.000 đồng), sẽ rất khó để thuyết phục lao động nước ngoài chấp nhận sử dụng mặt bằng dịch vụ của BHYT trong nước theo cách như vậy. Thế là nảy sinh một tình trạng lãng phí rất “vớ vẩn”: Doanh nghiệp phải bỏ tiền mua BHYT thêm một lần nữa cho lao động người nước ngoài, nhưng đối tượng này lại không quan tâm và cũng không bao giờ sử dụng dịch vụ của BHYT bắt buộc!
Thật ra, đa phần lao động người nước ngoài thường được trả lương net. Các lợi ích kèm theo hợp đồng cũng được thoả thuận rất chặt chẽ với người sử dụng lao động, trong đó luôn có xu hướng loại trừ những phát sinh bất lợi do sự thay đổi các chính sách của Nhà nước có thể gây ảnh hưởng đến thu nhập của người lao động. Để tuyển dụng được đội ngũ lao động chuyên môn cao từ nước ngoài, các doanh nghiệp luôn có ý thức đảm bảo một chế độ đãi ngộ hấp dẫn và cạnh tranh tốt nhất. Vì thế, trong trường hợp này, người sử dụng lao động thường phải chấp nhận nộp luôn phần nghĩa vụ cho người lao động nước ngoài đối với các khoản thu BHXH, BHYT và BH thất nghiệp bắt buộc. Tổng số tỷ lệ phải trích nộp trên lương và các thu nhập khác cho ba khoản này là 32,5% nếu người sử dụng lao động phải trả luôn cho người lao động. Đó là một tỷ lệ không nhỏ và nếu người lao động nước ngoài không cần cũng như không sử dụng quyền lợi này thì thực chất đây chỉ là một hình thức tăng thuế gián tiếp đối với doanh nghiệp. Chắc các nhà làm chính sách không phải không biết điều này nhưng để cứu vãn nguy cơ vỡ quỹ BHXH, có lẽ chỉ còn cách nhắm mắt tìm đường tận thu kiểu như vậy, bất chấp thực tế ra sao!
Việc thay đổi, bổ sung chính sách thuế – phí ở mỗi quốc gia là một điều bình thường. Nhưng sẽ là bất bình thường nếu những thay đổi đó không phục vụ cho lợi ích chung của toàn xã hội và vì mục tiêu quốc kế dân sinh mà chỉ nhằm để bù đắp cho hậu quả của tham nhũng cũng như sự yếu kém trong quản lý, điều hành ngân sách quốc gia. Khi Nhà nước đã chủ trương tận thu, việc tăng thuế, phí không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của người dân mà còn gián tiếp làm tăng chi phí sản xuất – dịch vụ, gây biến động chỉ số giá cả tiêu dùng và tác động tiêu cực đến các mục tiêu phát triển kinh tế.
Thế nên, trước khi “dạy dỗ” người dân phải có “trách nhiệm công dân đối với Nhà nước” (như phát ngôn của ông Phan Thế Ruệ, Chủ tịch Hiệp hội xăng dầu, khi hô hào ủng hộ việc tăng thuế xăng thêm 8000 đồng), có lẽ các quan chức Nhà nước cần tự hỏi rằng bản thân mình đã có trách nhiệm với dân chưa? Không thể cứ tham nhũng thoải mái, quản lý lỏng lẻo, điều hành dốt nát để cho ngân sách thiếu hụt, cạn kiệt, rồi sau đó lại yêu cầu dân phải có trách nhiệm gánh vác việc bù đắp cho quý vị!
Và bởi thế, cái cần giải cứu cấp bách nhất hiện nay là phải giải cứu não trạng của những loại quan chức như thế này trong bộ máy quản lý Nhà nước. Chỉ có thế mới hy vọng chấm dứt được các thể loại “giải cứu” khác đang có nguy cơ trở thành một kiểu từ khoá ngày càng phổ biến và đáng hổ thẹn trong đời sống kinh tế – xã hội ngày nay ở xứ ta!

shareShare this post
content_copyCategorized under

No Comments

comment No comments yet

You can be first to leave a comment

Submit an answer

info_outline

Your data will be safe!

Your e-mail address will not be published. Also other data will not be shared with third person.